Đến cả hai người vừa nãy còn đang bàn tán chuyện “quả phụ” cũng phải nín thở.
Hạt dưa trong tay cũng chẳng còn thơm ngon nữa.
Mãi đến khi nghi trượng đi xa, mẫu thân ta mới ho khan một tiếng:
“Vĩnh Ninh công chúa còn đẹp hơn mấy năm trước, cũng chẳng trách tên si tình Lang Cẩm Thư kia lại lưu luyến không quên.”
Nói xong mẫu thân lại nặn ra một nụ cười với ta:
“Nhạn Hồi, mẫu thân không nói con không xinh đẹp đâu, đợi đấy, mẫu thân lo liệu hôn sự khác cho con ngay đây.”
Ta khẽ cau mày: “Mẫu thân…”
Sắc mặt mẫu thân ta bỗng thay đổi:
“Không phải con phải lòng cái tên si tình kia rồi đấy chứ?”
Ta cố nhịn xúc động muốn tự bấm huyệt nhân trung cho mình:
“Mẫu thân, hay là người uống ngụm trà đi.”
Đúng lúc này tẩu tẩu chỉ tay:
“Đây chẳng phải là đệ nhất si tình của Thượng Kinh sao?”
Chỉ thấy Lang Cẩm Thư đang đứng trên tầng hai của Bạch Vân Cư đối diện chéo sang, ánh mắt đang say đắm nhìn về hướng công chúa vừa rời đi.
Trong ánh mắt dường như chứa chất thiên ngôn vạn ngữ.
Mẫu thân ta cười lạnh một tiếng: “Đúng là oan gia ngõ hẻm.”
Tẩu tẩu nhỏ giọng nói với chúng ta: “Con cược một trăm lạng, vị đệ nhất si tình Thượng Kinh này, đừng nói công chúa tái giá lần hai, dù là lần ba lần bốn, thậm chí có gả minh hôn, cũng không đến lượt hắn đâu.”
Không biết cửu tộc nhà ta có biết mỗi ngày mình đều đang sống trong cái cảnh treo đầu lên cạp quần thế này không nữa.
2.
Ta vội vàng kéo mẫu thân và tẩu tẩu rời khỏi cửa sổ, quay người đóng cửa lại.
Trong lúc cấp bách, thanh chống cửa sổ vô tình rơi xuống.
Trùng hợp đập trúng trán một nam tử trẻ tuổi đang đi ngang qua dưới lầu.
Nam tử đó ngẩng đầu nhìn lên, đôi mắt hoa đào sóng sánh ánh nước.
Ta vừa định há miệng hô “Quan nhân”.
Nhưng lại cảm thấy có gì đó sai sai.
Sai một vạn lần.
Đều trách bình thường ta quá ham học hỏi.
Sau khi hòa ly về nhà, cuộc sống của ta có một chút thay đổi.
Bởi vì ta bắt đầu viết thoại bản rồi.
Cuốn thoại bản mới viết có tên là:
“Bạch nguyệt quang của vị Thái phó thanh lãnh đã trở về rồi!”
Đằng nào cũng bị người ta chê cười rồi, ta dùng chuyện này để kiếm chút tiền thì có sao đâu?
Có sao đâu chứ?
Ta viết câu chuyện bi thương cầu mà không được của bọn họ, khóc ướt cả khăn tay.
Quay đầu nhìn thấy mình trong gương đồng, nghĩ đến việc sau này dựa vào viết thoại bản để kiếm được khối tài sản khổng lồ, ta lại không nhịn được mà cười ha hả.
Dọa cho Tiểu Đào sợ hãi lao ra khỏi cửa bỏ chạy.
Người thay đổi nhiều nhất trong nhà ngược lại là phụ thân ta.
Trên mặt không còn vết xước nào nữa.
Đi lại cũng dám bước to tiếng rồi.
Hôm nay mẫu thân ta đích thân xuống bếp làm hai món mà phụ thân thích, khiến phụ thân cảm động suýt khóc.
Cứ liên miệng xót xa cho mẫu thân ta — vốn là con gái của Tướng quân, đôi tay cầm ngân thương, lại vì phụ thân mà ở lại Thượng Kinh rửa tay nấu canh.
Gia đình ta có truyền thống sợ thê tử từ đời tổ tiên.
Đến đời ca ca ta, lại càng trò giỏi hơn thầy.
Năm tẩu tẩu mười hai tuổi thì phụ thân và mẫu thân qua đời, tẩu ấy phải cứng rắn tiếp quản Thiên Hương lâu dưới con mắt thèm thuồng của đám họ hàng mang tâm địa bất chính.
Một tay nuôi nấng đệ đệ ruột khôn lớn, thi đỗ Trạng nguyên.
Thiên Hương lâu cũng được mở tới tận Thượng Kinh.
Ca ca ta đối với vị tẩu tẩu dám cứng rắn đấu lại bọn lưu manh vô lại trong Thiên Hương lâu đã nhất kiến chung tình.
Mặt dày mày dạn theo đuổi khổ sở suốt một năm mới khiến tẩu tẩu gật đầu.
Năm đó chuyện này cũng coi như kinh thế hãi tục.
Dù sao ca ca ta cũng làm quan đến chức Hàn Lâm Viện Đãi Giảng, lấy một nữ tử nhà thương nhân quả thực là không lên được mặt bàn.
Vốn dĩ ca ca từng nói với ta, cùng lắm thì một khóc hai nháo ba thắt cổ.
Ai ngờ mẫu thân ta lén đi xem mắt tẩu tẩu, lúc về lại hớn hở ra mặt.
“Mấy quý nữ ở Thượng Kinh mẫu thân còn chẳng thèm để mắt tới, cô nào cô nấy như tượng đất vậy, vẫn là nhi tử của ta có mắt nhìn, cô nương Tiết Thanh này vừa giỏi giang vừa nhân nghĩa, đầy ắp sinh khí.”
Từ nhỏ lớn lên trong gia đình như vậy, lúc mới gả đến phủ Thái phó, ta quả thực vô cùng không quen.
Phủ Thái phó thanh lãnh, quá đỗi thanh lãnh.
Phụ thân của Lang Cẩm Thư cáo lão nhưng không về quê, mà dẫn theo tiểu thiếp đến Giang Nam dưỡng bệnh.
Khi tẩu tẩu nhắc đến chuyện này, sự khinh thường trên mặt tẩu ấy quả thực chẳng thèm che đậy.
“Lang lão Thái phó ta gặp vài lần rồi, lúc đến Thiên Hương lâu ăn cơm, một mình ông ta có thể uống cạn ba bầu rượu Lê Hoa, bệnh tật gì chứ, cùng lắm là bị trĩ thôi.”
Ca ca ta ở bên cạnh gật gù: “Nương tử nói đúng.”
Rồi lại nhẹ nhàng xoa đầu ta:
“Nhạn tử nhà ta gả sang đó, đúng là nhà họ thắp nhang thơm rồi.”
Mẫu thân của Lang Cẩm Thư suốt ngày ăn chay niệm Phật trong Phật đường, còn hai tai không màng việc bên ngoài hơn cả thư sinh.
Đám người hầu kẻ hạ cũng trầm lặng, không bao giờ nói nhiều.
Thú tiêu khiển lớn nhất của ta mỗi ngày, chính là ra vườn hoa cho cá chép ăn.
Miệng cá há ra rồi ngậm lại, cũng chẳng biết nói chuyện.
Đúng là im ắng đến nhạt nhẽo.
Lang Cẩm Thư thì càng khắc kỷ phục lễ, lúc ăn không nói, lúc ngủ không làm ồn.
Tất nhiên tính cách của Lang Cẩm Thư, ca tẩu ta đã nghe ngóng từ sớm, còn tìm một vòng người để hỏi thăm, chỉ sợ ta gả qua đó bị ngột ngạt đến sinh bệnh.
Tẩu tẩu vung tay hào phóng, định bồi giá thêm một gánh hát, may mà ta vội cản lại.
Ngày thành thân, ta ngồi trong hỉ phòng, tâm trạng ủ rũ.
Không hẳn chỉ vì gả cho Lang Cẩm Thư, mà chủ yếu là vì đói.
Từ bé đến lớn, ta chưa bao giờ đói thế này.
Thực sự là bụng dán vào lưng.
Rất lâu rất lâu sau, Lang Cẩm Thư mới bước vào hỉ phòng.
Hắn vén khăn voan lên, ngay cả một cái nhìn thẳng thắn cũng không dành cho ta.