Hắn ngừng một thoáng, rồi hạ giọng phán xét: “Chỉ là một con nha đầu vô phúc ngây dại, không đáng để bận tâm. Nương nương nghe vậy hẳn có thể yên lòng rồi.”
Nói xong, tựa như sợ nhiễm phải khí nghèo cùng vận xui nơi đây, hắn khinh thường phủi
mạnh chiếc phất trần, xoay người mang theo người hầu rời đi.
“Rầm!”
Cánh cửa mục của lãnh cung bị đóng sầm lại lần nữa, hoàn toàn ngăn cách với thế giới ồn ã, huy hoàng bên ngoài.
Trong lãnh cung, chỉ còn lại tịch mịch như chết, cùng vài tiếng nức nở nghẹn ngào của những vị phế phi.
Mẫu thân ôm chặt lấy ta, toàn thân vô lực, mồ hôi lạnh đã sớm thấm ướt cả áo xiêm.
Nàng nhìn về hướng Vương Trung khuất bóng, trong mắt ngập tràn sợ hãi xen lẫn hận ý khắc cốt ghi tâm.
Sau đó, nàng cúi xuống, nhìn ta — khuôn mặt bị tro bếp làm lấm lem, vậy mà đôi mắt vẫn mở to, trong trẻo nhìn nàng chăm chú.
Ánh mắt ấy, thuần khiết không chút bụi trần.
Nước mắt mẫu thân lại lần nữa trào ra, song lần này, là giọt lệ mừng sau đại nạn.
Nàng khẽ hôn lên trán ta, nơi có lớp tro đen che giấu phượng ấn, giọng nói khẽ khàng, chỉ để hai mẹ con nghe thấy:
“Giản nhi, hài nhi của ta… nghe thấy không?
Họ nói con là đứa ngốc, nói con không có phúc phần…”
“Đừng sợ. Như thế… là tốt. Như thế… con mới có thể sống tiếp.”
“Rồi sẽ đến một ngày… một ngày nào đó…”
Lời sau nàng không nói ra, nhưng ánh mắt lại kiên quyết hơn bất cứ lúc nào.
Ta nằm trong lòng mẫu thân, cảm nhận được hơi ấm của nàng, cùng nhịp tim đang đập dồn dập.
Ta không hiểu chân hoàng mệnh cách là gì, càng không hiểu thế nào là uy hiếp hay nguy hiểm.
Ta chỉ biết, người đang ôm ta… rất ấm áp.
Ta chép miệng, khẽ hít vào hương thơm nhàn nhạt, thần bí trong không khí — mùi hương mà chỉ mình ta có thể cảm nhận — rồi yên tâm nhắm mắt lại.
Dưới lớp tã vải rách nát không ai nhìn thấy, nơi trán ta bị phủ tro đen che lấp, ấn ký phượng vũ mờ mờ lay động một cái.
Tựa như phượng hoàng đang ngủ say, tạm thời thu liễm quang huy.
…
Cung Vĩnh Hòa rộn ràng tiệc mừng, kéo dài suốt một đêm.
Mà đêm ở lãnh cung, vẫn là băng giá và tĩnh mịch.
Mệnh cách chân phượng… không thể đoạt.
Kẻ cướp lấy vinh quang, giả phượng kia, lúc này đang tắm mình trong ánh sáng hư vọng.
Mà đích thực đế nữ, lại giữa bóng tối nhơ bẩn, phát ra tiếng khóc yếu ớt đầu tiên khi đến cõi trần.
Bánh xe vận mệnh, kể từ giây phút này, bắt đầu chậm rãi xoay chuyển, bước lên con đường lớn lao đầy cuồng ba dữ sóng đã định sẵn từ trước.
Chương 2
Câu nói của Vương Trung: “Nha đầu ngây dại, không đủ uy hiếp” — giống như một tấm bùa hộ mệnh, tạm thời che chắn ta và mẫu thân khỏi tầm mắt của quý phi.
Mẫu tử nơi cung Vĩnh Hòa, đắm chìm trong huyễn tưởng được thiên mệnh ưu ái, hưởng thụ muôn vàn tâng bốc cùng xa hoa vô tận.
Còn chúng ta, lại nơi lãnh cung lạnh lẽo, bị quên lãng — vùng tối tận cùng trong hậu cung, từng ngày đấu tranh sinh tồn.
Ngày tháng trong lãnh cung, như ngâm mình trong nước đắng.
Cơm thiu, cháo lạnh, chăn rách, và thứ mùi mốc meo cùng tuyệt vọng bám riết không tan.
Thân thể mẫu thân, sau đêm sinh hài tử đã kiệt quệ nguyên khí, chẳng được lấy một chút điều dưỡng, rất nhanh liền suy sụp.
Nàng thường xuyên ho khan, sắc mặt trắng bệch khiến người nhìn giật mình, nhưng luôn dành phần ăn ít ỏi thu nhặt được… cho ta trước.
“Giản nhi ăn đi, ăn nhiều mới mau lớn.”
Nàng xoa đầu ta, ánh mắt dịu dàng như ánh trăng.
Ta mơ hồ gật đầu, cố gắng nuốt trôi những thứ cứng khô làm nghẹn cổ họng.
Ta không hiểu vì sao nơi chúng ta ở lại rách nát đến vậy, vì sao đồ ăn lại khó nuốt đến thế.
Nhưng ta cảm nhận được sự vất vả và yêu thương của mẫu thân.
Bởi vậy, ta cố gắng không khóc, không quấy.
Những phế phi trong lãnh cung, ban đầu đều lạnh nhạt với mẹ con ta.
Nơi hậu cung này, trái tim từ lâu đã chết, ai còn tâm sức lo cho sống chết kẻ khác?
Nhưng dần dà, mọi sự bắt đầu đổi khác.
Có lẽ là vì dị tượng đêm ta chào đời,
có lẽ là vì sự tĩnh lặng mà kiên cường trong mẫu thân – Vân đáp ứng,
cũng có lẽ… là vì một thứ “vận khí” nào đó ẩn sâu trong ta, đến chính bản thân ta còn chưa từng hay biết.
Năm ta tròn ba tuổi, mùa đông đặc biệt giá rét.
Bao nhiêu lớp giấy dán lên khung cửa sổ nát cũng chẳng thể ngăn nổi cuồng phong.
Mẫu thân đem chiếc áo bông cũ kỹ dày nhất duy nhất quấn chặt lấy thân ta, còn mình thì rét đến tím môi, ho càng thêm dữ dội.
Ta cuộn tròn trong lòng nàng, ngẩng đầu nhìn chiếc cằm gầy gò, nhỏ giọng bảo:
“Mẫu thân, Giản nhi lạnh…”
Là thật sự rất lạnh, đến nỗi đôi chân nhỏ cũng tê cứng.
Mẫu thân ôm chặt hơn, giọng run run:
“Giản nhi ngoan, ôm mẫu thân là không lạnh nữa…”
Thế nhưng thân thể nàng… cũng giá lạnh tựa băng.
Đêm hôm ấy, hai mẹ con ta ôm nhau run rẩy trên chiếc giường rơm, tưởng như chẳng thể sống sót đến bình minh.
Sáng hôm sau, ta bị một tiếng “xào xạc” lạ thường làm tỉnh giấc.
Vừa mở mắt, đã thấy trong lỗ hổng của cửa sổ cũ nát, không rõ ai đã nhét vào một vật.
Mẫu thân cảnh giác bước tới, cẩn thận gỡ xuống.
Là một nắm bông vụn, không mới, nhưng dày dặn và mềm mại.
Tuy rằng dính chút bụi đất, song đủ sức chống lại gió lạnh buốt xương.
“Thứ này… từ đâu mà có?”
Mẫu thân vừa kinh ngạc vừa nghi hoặc.
Ở chốn lãnh cung, một mảnh vải là vật quý, huống chi là một nắm bông lớn đến thế.
Không ai đáp lại.
Chỉ có mấy con chim sẻ ngoài cửa sổ lích chích rồi vụt bay đi.
Dựa vào nắm “thiên giáng” bông ấy, mẫu thân miễn cưỡng chắp vá nên một chiếc áo lót nhỏ cho ta, nhờ đó chúng ta gắng gượng vượt qua mùa đông khắc nghiệt ấy.
Về sau, những chuyện tương tự cứ liên tục xảy ra.
Khi bụng ta đói cồn cào, nhìn hũ gạo trống rỗng mà ngẩn người, lẩm bẩm:
“Đói…”
Chẳng bao lâu sau, một con mèo hoang tha đến nửa miếng điểm tâm lạnh ngắt, chẳng biết trộm từ góc nào trong ngự thiện phòng, đặt trước cửa rách của chúng ta.
Tuy dính bụi, nhưng gạt bỏ lớp ngoài, bên trong vẫn có thể ăn được.
Khi ta khát đến nứt môi, ngồi nhìn thùng nước cạn đáy đờ đẫn.
Sáng hôm sau, nơi cửa lại có vài quả dại dính sương, chẳng rõ là từ đâu, tuy chua chát nhưng giải được cơn khát.
Thậm chí có một lần, mẫu thân bệnh nặng, ho đến không thở nổi.
Ta sợ đến òa khóc, ôm lấy nàng kêu gào: “Mẫu thân đừng bệnh… mẫu thân mau khỏi…”
Sáng hôm sau, vị phế phi điên loạn ngày thường luôn lảm nhảm “nhi tử của ta”, lại lảo đảo mang đến mấy nhánh thảo dược khô héo, miệng lắp bắp:
“Nấu nước… uống… trị ho…”
Mẫu thân nửa tin nửa ngờ mà uống thử, cơn ho quả nhiên dịu đi không ít.
Chuyện như thế diễn ra nhiều lần, khiến ánh mắt các phi tần trong lãnh cung nhìn ta cũng đổi thay.
Không còn lãnh đạm, mà dần chuyển sang kinh ngạc, thậm chí là một tia kính sợ khó nhận ra.
Họ bắt đầu lén gọi ta là “tiểu Phúc Tinh”.
Vị phế phi điên từng chỉ dẫn mẫu thân lấy tro nồi che dấu ấn phượng nơi trán ta, lúc tỉnh táo
đôi khi lại nắm tay ta, ánh mắt đục ngầu chăm chú nhìn, miệng thì thào:
“Phượng hộ… thật rồi… phượng hoàng thương xót kẻ khổ mệnh…”
Mẫu thân luôn vội vàng kéo ta về phía sau, không cho bà ấy nói nhiều.
Song khi chỉ còn lại hai mẹ con, ánh mắt nàng nhìn ta… cũng không giống ngày trước nữa.
Nàng không còn chỉ xem ta là một tiểu cô nhi khốn khổ cần được nàng dùng mạng mà che chở.
Nàng bắt đầu mơ hồ cảm thấy, trên người ta, tựa hồ thực sự có một thứ sức mạnh khác thường.
Thứ sức mạnh ấy, giữa chốn lãnh cung tuyệt vọng, như ánh lân quang mờ nhạt trong đêm
tối, tuy yếu ớt nhưng đủ thắp lên một tia hy vọng ấm áp cho những nữ nhân bị ruồng bỏ nơi đây.
Họ bắt đầu lén chia cho ta chút đồ ăn còn sót lại.
Khi ta và mẫu thân bị những phế phi ác nghiệt bắt nạt, họ sẽ run rẩy đứng ra, nói vài lời hòa hoãn.
Lãnh cung — nơi tưởng như là địa ngục lạnh lẽo — lại dần trở thành một chốn trú thân méo mó của mẹ con ta.
Còn bên kia bức tường… lại là một thế giới hoàn toàn khác.
Yến tiệc đầy năm của Vĩnh Ninh công chúa, tổ chức đến cực độ xa hoa.
Nghe nói thánh thượng long tâm đại duyệt, đặc biệt chuẩn chỉ mở tiệc lớn tại Ngự Hoa Viên, trăm quan cùng nhau chúc mừng.
Minh châu làm đăng, gấm vóc trải đất, mỹ vị trân phẩm dâng lên như nước chảy.
Ca kịch hát suốt ba ngày ba đêm, khắp hoàng cung tràn ngập hương rượu thịt cùng mùi hương xa xỉ.
Thậm chí ở nơi lãnh cung hẻo lánh này, những hôm gió lớn, tựa hồ cũng len lỏi được chút náo nhiệt ngọt ngào từ phía ấy.
Hôm ấy, mẫu thân ôm ta, ngồi nơi bậc đá cao nhất của lãnh cung tàn tạ, đưa mắt nhìn về phía bầu trời trên cung Vĩnh Hòa được ánh đèn chiếu rọi đến mờ sáng.
Trong tay ta là nửa chiếc bánh bột ngô đã khô cứng, không rõ vị phế phi nào tốt bụng lén đưa cho, ta đang chậm rãi nhai từng chút một.
Mẫu thân khe khẽ ngân nga một khúc dân ca Giang Nam, giọng rất nhẹ, phảng phất ưu sầu không tan.
“Giản nhi,” nàng bỗng thì thầm, “hôm nay là sinh thần của vị Vĩnh Ninh công chúa ấy.”
Ta ngẩng đầu lên, khoé miệng còn dính vụn bánh, mờ mịt nhìn nàng.
“Nàng ấy hẳn là đang khoác xiêm y đẹp nhất, đeo châu ngọc sáng nhất, có rất nhiều người bên cạnh, cùng ăn món ngon mỹ vị…”
Giọng mẫu thân dần nhỏ lại, xen vào đó là một tia nghẹn ngào khó phân biệt.
Nàng cúi đầu, trán chạm trán ta, giọt lệ nóng hổi nhỏ lên mặt ta.
“Giản nhi của mẫu thân… cũng là hôm nay sinh thần…”
Ta chẳng hiểu vì sao mẫu thân lại rơi lệ, đưa tay nhỏ lau nước mắt nàng một cách vụng về.
“Mẫu thân, đừng khóc. Bánh ngô… ngon lắm.”
Ta đưa chiếc bánh cắn dở đến bên miệng nàng.
Mẫu thân bật cười trong nước mắt, siết chặt ta vào lòng:
“Đúng vậy, Giản nhi của mẫu thân có bánh ngô ăn… cũng tốt rồi.”
Nhưng ta biết, chẳng hề tốt.
Ta từng nghe mấy thái giám đưa cơm bàn tán, nói tiệc đầy năm của Vĩnh Ninh công chúa có đến hơn trăm loại điểm tâm, có thứ gọi là “Ngọc Lộ Cao”, mềm mịn thơm ngọt, tan ngay đầu lưỡi.
Còn bánh ngô trong tay ta — vừa cứng vừa khô, cào rát cổ họng.
Nhưng đó là thứ tốt nhất mà ta và mẫu thân có được.
Ngày tháng cứ thế lặng lẽ trôi qua, giữa tận cùng thiếu thốn và đôi lúc may mắn nhỏ nhoi, ta chầm chậm lớn lên, đến năm tròn năm tuổi.
Vết tro trên trán ta, cách một đoạn thời gian, mẫu thân lại lặng lẽ giúp ta bôi lại, hoàn toàn che khuất dấu ấn phượng vũ nhỏ xíu ấy.
Ta vẫn giả vờ chậm chạp hơn những đứa trẻ cùng tuổi, ít nói, phản ứng chậm chạp.
Đó là bí mật giữa ta và mẫu thân.
Chỉ khi ở một mình, hoặc đối diện với tiểu thú, hoa cỏ, trong mắt ta mới hiện lên ánh sáng linh động và tò mò như những đứa trẻ bình thường.
Ta vẫn ngỡ rằng, ngày tháng sẽ mãi thế mà trôi — ở bên mẫu thân, lớn lên âm thầm nơi lãnh cung tĩnh mịch.
Cho đến mùa xuân năm ấy — bệnh của mẫu thân đột nhiên trở nặng.
Nàng ho ngày càng dữ, đôi khi ho ra cả máu.
Sắc mặt chẳng còn trắng bệch, mà chuyển sang một màu xám u ám.
Thân hình gầy đến chỉ còn xương, ôm ta cũng thấy khó khăn.
Trong lãnh cung chẳng tìm đâu ra thuốc men tử tế, những lần “may mắn” có thảo dược vụn vặt cũng vô hiệu.
Ta sợ đến phát cuồng.
Ngày đêm túc trực bên giường, nắm lấy tay nàng đã lạnh như băng, không ngừng gọi:
“Mẫu thân… mẫu thân đừng ngủ… Giản nhi sợ…”
Mẫu thân cố gắng hé mắt, nở một nụ cười yếu ớt:
“Giản nhi đừng sợ… Mẫu thân… không sao…”
Nhưng ta biết — nàng đang nói dối.
Hơi thở của nàng mong manh như tơ, tựa hồ bất cứ lúc nào cũng sẽ ngừng hẳn.
Vị phế phi điên loạn kia, một lần tỉnh táo nhìn thấy dáng vẻ mẫu thân, khẽ lắc đầu, rồi quay sang nhìn ta đang run rẩy nép trong góc, nói:
“Hài tử… mẫu thân ngươi… sợ là không ổn rồi… phải tìm Thái y… không thì…”
Bà chưa nói hết câu, lại rơi vào cơn điên dại, cười ngây ngô bỏ chạy.
Nhưng hai chữ “Thái y” ấy — như một luồng sáng chói rọi vào đầu óc non nớt mơ hồ của ta.
Thái y.
Là người có thể chữa bệnh.
Ở đâu?
Ở bên ngoài.
Ở nơi có điểm tâm ngon, có xiêm y đẹp, có rất nhiều người — cái thế giới mà ta chưa bao giờ chạm đến.
Mẫu thân cần Thái y!
Ý nghĩ ấy như cỏ dại, bỗng chốc mọc đầy trong lòng ta.
Nhìn mẫu thân hơi thở thoi thóp, nỗi sợ khổng lồ nuốt chửng lấy ta.
Ta không thể không có mẫu thân.
Các phế phi trong lãnh cung lén bàn tán, nói rằng thánh thượng thỉnh thoảng sẽ đi qua một đoạn cung đạo gần lãnh cung, để đến Tây Uyển cưỡi ngựa.
Hoàng thượng…
Đó là người lớn nhất trong cung này.
Người ấy… nhất định có cách cứu được mẫu thân!
Ta, năm tuổi, trong đầu chỉ có một ý nghĩ đơn giản mà kiên quyết: Tìm được người lớn nhất ấy, cầu xin người cứu mẫu thân!
Một chiều hôm, mẫu thân lại hôn mê.
Ta đưa tay chạm lên trán nàng, nóng như thiêu đốt.
Ta cắn chặt răng, hạ quyết tâm làm một việc táo bạo.
Ta lén lút rời khỏi gian nhà tồi tàn chúng ta đang trú ngụ, tránh né những phế phi đang phơi
nắng trong viện, lặng lẽ như chuột nhỏ, dựa theo chút trí nhớ chắp vá từ lời đứt đoạn của
đám thái giám đưa cơm và các bà điên, lần theo phương hướng dẫn đến cửa lớn lãnh cung.
Ta biết, cửa lớn ấy thường xuyên bị khóa kín.
Nhưng ta nhớ, có lần theo mẫu thân ra nhặt củi, từng phát hiện một cái hang chó nhỏ nơi mép tường cung, bị cỏ dại che phủ.
Ta dùng hết sức bình sinh, vạch đám cỏ rậm, chui ra khỏi lỗ hổng chật hẹp ấy.
Những viên gạch đá lạnh lẽo của tường cung làm trầy xước đầu gối và cùi chỏ ta, máu rỉ ra, đau rát.
Nhưng ta chẳng còn tâm trí để mà để ý.
Đây là lần đầu tiên, ta thật sự bước ra ngoài ranh giới của lãnh cung.
Thế giới bên ngoài rộng lớn và xa lạ.
Ta như con nai con hoảng hốt, dựa vào trực giác, lao về phía đoạn cung đạo mà có kẻ từng nói: hoàng thượng thường qua đó.
Ta chạy đến thở hổn hển, mặt mũi lấm lem không còn ra hình dạng, xiêm y rách nát lại bị cành cây cào xước càng thêm tả tơi.
Trong lòng ta chỉ có một niệm tưởng duy nhất: Nhanh lên! Phải nhanh hơn nữa!
Phải tìm được người lớn nhất ấy… cứu mẫu thân!
Chương 3
Ta gắng hết sức mà chạy.
Ngoài lãnh cung thật rộng, đường thật dài.
Gió quất vào mặt tựa dao cứa.
Đầu gối và cùi chỏ đau buốt như lửa đốt, hẳn là do khi chui qua hang chó bị cào trầy.
Nhưng ta chẳng dám ngừng lại.
Trán mẫu thân nóng rực như than, sắc mặt xám ngoét, hơi thở mong manh như tơ — tất cả như từng roi quất vào tim ta.
Ta phải tìm thái y!
Phải tìm người lớn nhất kia — hoàng thượng!
Trong đầu loạn thành một mớ, toàn là những câu rời rạc trong lãnh cung:
“Hoàng thượng… thỉnh thoảng sẽ đến Tây Uyển… đi qua cung đạo kia…”
“Uy phong lắm… rất nhiều thị vệ…”
“Lỡ va phải ngự giá… là chém đầu đó…”
Chém đầu?
Ta không hiểu rõ nghĩa là gì, nhưng trong lòng thấy sợ vô cùng.
Nhưng mẫu thân… mẫu thân sắp không qua khỏi rồi!
Ta không thể quan tâm đến điều gì khác!
Cắn răng chịu đau, ta men theo bản năng, chạy trong mê cung cung đạo rối rắm.
Tránh né một đội cung nữ bưng khay qua — họ nhìn thấy ta, như thấy quỷ, vội tránh xa, còn mắng thầm:
“Tiểu ăn mày từ đâu ra vậy? Dơ dáy chết được!”
Lách qua vài thái giám đang quét dọn — họ giơ chổi lên định đánh ta:
“Cút ngay! Dọa đến quý nhân thì ngươi còn mấy cái đầu?”
Ta giống như con chuột nhắt hoảng sợ, lảo đảo chạy trong bóng tối của tường son ngói vàng.
Cuối cùng, ta chạy đến một con đường rộng rãi sáng sủa khác hẳn.
Hai bên đường là hàng thị vệ mặc giáp sáng choang, tay đặt trên chuôi đao, mặt không chút biểu cảm, đứng yên như tượng gỗ.
Không khí cũng trở nên nặng nề ngột ngạt.
Từ xa xa, truyền đến âm thanh mơ hồ của trống nhạc và tiếng bước chân đều tăm tắp.
Đến rồi!
Nhất định là người lớn nhất ấy sắp tới!
Tim ta đập dồn dập, như muốn nhảy khỏi lồng ngực.
Ta nấp sau một cây cột trụ lớn nơi cung đạo, len lén ghé mắt nhìn ra ngoài.
Chỉ thấy một đoàn nghi trượng uy nghiêm bức người đang chầm chậm tiến đến.